Thúc đẩy công bố quốc tế các công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

Công bố các công trình nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (KHXH và NV) đang gặp nhiều khó khăn, rào cản. Các nhà khoa học tham dự tọa đàm do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia phối hợp với Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học quốc gia Hà Nội) tổ chức đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy việc công bố quốc tế các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Nghiên cứu theo lối mòn và ngôn ngữ là hai rào cản lớn

Hiệu trưởng trường ĐHKHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) PGS, TS Phạm Quang Minh cho biết, năm 2016 trường được ĐHQGHN giao nhiệm vụ phải có 34 bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học được công nhận bởi Viện Thông tin Khoa học ISI (tạp chí ISI), tuy nhiên, đến nay số nhà khoa học đăng ký còn rất ít so với yêu cầu. Việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu và đưa các công trình nghiên cứu ở Việt Nam đến với giới khoa học quốc tế rất quan trọng, khẳng định tiềm năng và vị thế của các nhà khoa học trong nước. Theo PGS, TS Phạm Quang Minh, lĩnh vực KHXH và NV có thuận lợi dễ công bố quốc tế hơn các lĩnh vực khác. Việt Nam có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời với những bối cảnh lịch sử, chính trị xã hội phức hợp và độc đáo, là một “bảo tàng sống”, luôn tạo ra sự “tò mò”, hứng thú khoa học cho thế giới. Đã có nhiều công trình của các học giả thế giới gây được tiếng vang cho những nghiên cứu về Việt Nam, tuy nhiên, dường như các nhà khoa học Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu này hoặc chưa có những vấn đề nghiên cứu mới mẻ mà thường đi theo lối mòn. Bên cạnh đó, ngôn ngữ cũng là một rào cản lớn với các nhà khoa học Việt Nam. PGS, TS Phạm Quang Minh kể rằng, không ít lần ông nhận được những bài nghiên cứu được gửi về với những lỗi được gạch “đỏ choe choét” về diễn đạt và được gợi ý sửa lại mạch lạc, dễ hiểu hơn rất nhiều. Điều này xuất phát từ hạn chế về tiếng Anh của các nhà khoa học Việt Nam.

Theo TS Nguyễn Tuấn Anh (Khoa Xã hội học, ĐHKHXH và NV), bên cạnh rào cản về ngôn ngữ, các nhà khoa học Việt Nam còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, chưa nắm bắt được những xu hướng nghiên cứu nổi trội, những thông tin mới nhất trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Hơn nữa, cơ sở lý thuyết, phương pháp luận còn nhiều khác biệt với các nước trên thế giới, hạn chế về kinh phí thực hiện… là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH và NV. Nhiều nhà khoa học đồng ý với quan điểm rằng, chúng ta thiếu những tham chiếu, tham khảo học thuật của những công trình mang vai trò mở đường, định hướng hay lật lại vấn đề cho một dòng hay trào lưu nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH và NV. Những trào lưu nghiên cứu và tư tưởng học thuật vốn vô cùng phong phú và luôn vận động, đổi mới nhưng quan điểm học thuật tại Việt Nam lại chưa chú ý đến sự vận động này. Mặc dù đã có dấu hiệu chuyển biến, có những thay đổi theo hướng tiếp cận với sự đa dạng, cập nhật các học thuyết trên thế giới, tuy nhiên, tình trạng chậm chạp, hay thậm chí lạc hậu vẫn tương đối phổ biến.

Cần các giải pháp cụ thể, rõ ràng

Là người có nhiều kinh nghiệm trong việc công bố các bài báo trên tạp chí ISI, Phó Giám đốc ĐHQGHN GS, TS Nguyễn Hữu Đức cho rằng công bố trên các tạp chí quốc tế chỉ là bắt đầu, nếu không có những nghiên cứu công bố quốc tế thì khó có thể có những kiến thức lõi, “chỉ có thể theo sau các nước khác”. Theo ông, lĩnh vực khoa học xã hội có lợi thế dễ được đăng trên các tạp chí ISI quốc tế hơn lĩnh vực kỹ thuật hay khoa học tự nhiên, vấn đề là “có dám nói và nói theo cách nào?”. Điều quan trọng chính là nhận diện và định vị được khoa học xã hội Việt Nam đang ở đâu, nghiên cứu cái gì, đối chiếu, so sánh với thế giới. GS, TS Nguyễn Hữu Đức cho rằng, để tăng cường các nghiên cứu quốc tế, việc chọn hướng nghiên cứu rất quan trọng. Vì vậy cần thiết lập ra một ngân hàng đề tài lĩnh vực KH và XH, tập trung vào những vấn đề mà thế giới quan tâm; xây dựng một bộ phận hỗ trợ dịch tiếng Anh cho các nhà khoa học. Đồng thời, tập trung xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh và dựa trên số lượng các công trình được công bố để làm căn cứ đánh giá cán bộ, từ đó nâng cao dần giá trị của đội ngũ chuyên gia đầu ngành.

Cùng quan điểm này, PGS, TS Phạm Quang Minh khẳng định: Công bố quốc tế các công trình khoa học được coi là vấn đề sống còn đối với sự phát triển bền vững của một trường đại học. Chia sẻ một số kinh nghiệm về công bố quốc tế, PGS, TS Phạm Quang Minh yêu cầu các nhà khoa học, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ, cần nghiên cứu học tập cách viết một bài báo khoa học theo chuẩn quốc tế; tích cực tham gia những hội thảo, hội nghị quốc tế, tranh thủ trao đổi, thảo luận, học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp và nhất là những chuyên gia đầu ngành.

TS Trần Văn Kham, Phó trưởng Phòng Quản lý Nghiên cứu khoa học ĐHKHXH và NV cho rằng: Để thúc đẩy công bố quốc tế, cần các giải pháp cụ thể, rõ ràng. Về cơ chế, chính sách cần tiếp tục thực hiện các quy định khen thưởng, xây dựng quỹ đầu tư trọng điểm và quảng bá kết quả nghiên cứu; chuẩn hóa kỹ thuật nghiên cứu, phân tích dữ liệu; hợp tác với các nhà xuất bản, các học giả nước ngoài để thúc đẩy công bố quốc tế. Bên cạnh đó, cần yêu cầu phải có bài báo quốc tế trong tiêu chuẩn xét học hàm, học vị, nâng dần chỉ báo thực hiện nhiệm vụ khoa học để các nhà khoa học có động lực hơn trong nghiên cứu, công bố các bài báo quốc tế.

TS Đỗ Tiến Dũng, Giám đốc Quỹ Nafosted trích dẫn một thống kê cho biết: Năm 2012, lần đầu Việt Nam đạt con số 1/1.000 tổng số công bố ISI trên thế giới. Trong đó, các bài báo lĩnh vực KH và XH chiếm 0,5/1.000. Trong khi ngành khoa học tự nhiên cứ sáu đến bảy năm số lượng công bố quốc tế đạt gấp hai lần, thì ngành KH và XH chỉ cần năm năm, đây được coi là một tín hiệu đáng mừng. TS Đỗ Tiến Dũng nhấn mạnh, việc công bố quốc tế phải được coi là nhiệm vụ của mỗi nhà khoa học, tuy nhiên đích đến không phải là bài báo mà là chất lượng, sức ảnh hưởng của mỗi công trình được công bố. Để góp phần đẩy mạnh công bố quốc tế nói chung, Quỹ Nafosted đã đưa công bố quốc tế vào điều kiện cứng để cấp kinh phí cho các đề tài, đồng hành cùng các nhà khoa học Việt Nam nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu - hội nhập quốc tế và phát triển.

HẠNH NGUYÊN

Nguồn: Báo Nhân Dân Online